Con bài “văn hóa, lịch sử dân tộc” đánh nhiều liệu có thắng mãi?

Ba năm trở lại đây, điện ảnh Việt Nam nói riêng và ngành giải trí nói chung ngày càng có nhiều tác phẩm sử dụng chất liệu lịch sử, văn hóa dân tộc. Đây là một tín hiệu vui khi nghệ thuật Việt Nam đang dần xây dựng bản sắc riêng của mình. Tuy nhiên, vấn đề nào cũng có hai mặt.

Trước đây, khán giả Việt Nam luôn canh cánh một nỗi lúc nào cũng phải xem phim lịch sử của Trung Quốc, Hàn Quốc trong khi nước ta cũng đồng văn đồng chủng, tồn tại mấy ngàn năm qua cùng họ mà truyền thống, lịch sử chẳng mấy khi được lên phim. Hoặc lên thì cũng kiểu kịch sân khấu, hoặc sến sẩm, nội dung nhạt nhẽo,.. chứ chưa bao giờ có hồn có vía.

Sống Cùng Lịch Sử được Nhà nước đầu tư và công chiếu nhưng không ai biết.

Thiên Mệnh Anh Hùng được đầu tư lớn nhưng cốt truyện và diễn viên quá nhàm chán.

Mỹ Nhân Kế giải trí nhưng không có gì liên quan đến truyền thống ngoài trang phục.

Sự trở lại của trào lưu làm phim văn hóa – lịch sử

Bẵng đi một thời gian, những tác phẩm gắn mác lịch sử hoặc cổ trang Việt Nam đã bị khán giả quay lưng và từ đó, không ai động đến đề tài này nữa. Tuy nhiên, đến năm 2016, trào lưu làm phim thể hiện văn hóa dân tộc được khởi xướng nhờ Ngô Thanh Vân. Khởi đầu là bộ phim đầu tay của cô, Tấm Cám: Chuyện Chưa Kể.

Mặc dù phim không được đánh giá cao về nội dung, diễn xuất nhưng về phần hình ảnh, phim đã cải thiện rất nhiều so với những tác phẩm trước của điện ảnh Việt. Tác phẩm gây chú ý bởi dàn diễn viên trẻ đẹp, trang phục được đầu tư chỉn chu, có sự cách tân phù hợp thị hiếu hiện đại.

Phim lịch sử Việt Nam đầu tiên có nam chính vừa mắt

Sau đó, đề tài văn hóa – lịch sử trong điện ảnh khởi sắc trở lại. Từ điện ảnh lan sang những lĩnh vực khác như âm nhạc, vlog, nhiếp ảnh. Không thể phủ nhận, thế hệ nghệ sĩ tiếp theo có cái nhìn mới mẻ, dám làm, dám sáng tạo và biết học hỏi nước ngoài. Trong năm 2017, 2018 trào lưu này tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và công nghệ làm phim, ngày càng có nhiều nhà đầu tư chịu bỏ tiền để đầu tư cho các dự án phim có yếu tố truyền thống, thời đại. “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đã cho ra đời nhiều tác phẩm mang dấu ấn văn hóa Việt Nam.

Cô Ba Sài Gòn – bối cảnh Sài Gòn năm 1969

Tháng Năm Rực Rỡ – bối cảnh năm 1975, trước ngày Giải phóng

Song Lang – bối cảnh Sài Gòn 1980

Vợ Ba – bối cảnh miền Bắc thế kỷ 19

Vậy là, ngành điện ảnh Việt Nam trong ba năm qua đã làm được tương đối đầy đủ những mốc thời gian nổi bật trong lịch sử. Phim về thời đại không còn làm khó những nhà làm phim như cách đây nhiều năm về trước. Không thể phủ nhận, các nghệ sĩ đã tạo ra được sức hút để kéo khán giả về với nền văn hóa chính quốc.

Trên đây đều là những phim có độ phổ biến cao với công chúng. Có phim đạt doanh thu, có phim đạt những giải thưởng trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là “Sau 5 năm, 10 năm nữa những bộ phim trên có còn ở lại trong lòng khán giả Việt Nam?“.

Thắng như thế nào mới là thắng?

Sự thành công của một bộ phim không nằm ở doanh thu hay độ “hot” mà nằm ở thời gian. Một bộ phim thành công là bộ phim ở lại được lâu với khán giả. Điều đó nằm ở nội dung câu chuyện chứ không phải hình thức. Xét về mặt hình thức – thiết kế mỹ thuật, bối cảnh và kể cả ngoại hình diễn viên, những phim về văn hóa truyền thống, thời đại lịch sử ở Việt Nam hiện nay đã làm đẹp hơn xưa rất nhiều. Nhưng về nội dung thì vẫn rất cần nhìn lại và nhìn sâu hơn.

Phim Vợ Ba mặc dù được đánh giá cao về thiết kế bối cảnh, mỹ thuật nhưng nhiều khán giả nhận ra những “truyền thống” được tái hiện trong phim không hề có trong văn hóa Bắc Bộ thế kỷ 19, điển hình là cảnh húp trứng gà sống trên bụng người vợ để có con trai. Đây chỉ là góc nhìn của một đạo diễn muốn chinh phục những con mắt phương Tây.

Ngay cả Cô Ba Sài Gòn dù “gây bão” nhưng là nhờ mảng thời trang chứ không phải nội dung. Câu chuyện được cho là lỏng lẻo, những chi tiết về nguồn gốc, cách may áo dài cũng không chính xác. Tương tự, Những Tháng Năm Rực Rỡ cũng quá chú trọng vào trang phục khiến phim không khác gì một MV ca nhạc phong cách retro, nhóm Ngựa Hoang nhìn giống nhóm nhạc T-ara trong MV Roly Poly hơn là một nhóm nữ sinh Việt Nam.

Trong các phim về thời đại do Studio 68 của Ngô Thanh Vân sản xuất, Song Lang có thể xem là ổn nhất nhưng phần cải lương và phần câu chuyện giữa hai nhân vật chính chưa đồng nhất. Nội dung vở cải lương không thật sự phục vụ cho nội dung phim nhưng chiếm thời lượng cao khiến khán giả e dè khi ra rạp. Bản thân Ngô Thanh Vân là người tạo ra trào lưu “quay về truyền thống dân tộc” nhưng chính cô cũng bị khán giả cho rằng, cô đang có xu hướng lạm dụng lòng yêu nước của họ để bán vé.

Ngoài ra, các bộ phim vẫn có một cảm giác “quen”, nhưng lại không thuộc về văn hóa Việt Nam. Ví dụ, một số khán giả xem Song Lang cho rằng phim có cảm giác giống Bá Vương Biệt Cơ, xem Vợ Ba thì lại thấy Đèn Lồng Đỏ Treo Cao dù nội dung phim hoàn toàn khác. Đôi khi không phải khán giả muốn “dìm” phim nước nhà, mà những bộ phim đó đã ăn sâu vào đầu họ bởi câu chuyện, hình ảnh. Và ta phải hỏi lại các nhà làm phim Việt Nam, câu chuyện của họ có thật sự là của họ chưa?

Kết

Cái hồn của một bộ phim không nằm ở những thứ “hay hay” bên ngoài mà nằm ở câu chuyện. Hãy nhìn lại bộ phim Mùi Đu Đủ Xanh của đạo diễn Trần Anh Hùng. Đây hoàn toàn là câu chuyện của riêng anh – một Việt kiều Pháp đã xa xứ. Phim quay bối cảnh giả ở Paris, được thực hiện theo phong cách điện ảnh Pháp nhưng có ai không cảm nhận được những chi tiết Việt Nam, tình cảm Việt Nam trong đó. Đến nay, bộ phim “quốc tế” này có lẽ vẫn là bộ phim “Việt Nam” nhất trong lòng khán giả Việt.

Năm nay, khán giả trông đợi vào phim Trạng Tí – một câu chuyện đậm đặc truyền thống Việt Nam. Hy vọng rằng, nền điện ảnh nước ta sẽ sớm có một tác phẩm định hình và sống cùng với lịch sử điện ảnh.

Nana

Mọi ý kiến đóng góp về bài viết xin gửi về địa chỉ: news@xonefm.com
Và đừng quên lắng nghe các chương trình thú vị của Xone Radio trên App.

Leave a Comment